Từ lâu mình vẫn hay nghe về người Chăm, hay người Chàm, người Champa, người Chiêm Thành, mỗi chỗ gọi một kiểu theo thói quen hay phiên âm. Mình biết đó là một dân tộc đã từng có thời huy hoàng dưới tư cách một vương quốc riêng gọi là Champa, lãnh thổ trải rộng dọc vùng duyên hải miền Trung Nam Bộ Việt Nam ngày nay, từ Đà Nẵng xuống tới Bình Định. Vương quốc của họ dần bị người Việt, qua các triều đại, bắt đầu từ thời Đại Việt nhà Lý, đánh chiếm dần dần bằng biện pháp quân sự, rồi đồng hóa qua con đường văn hóa và kinh tế, cứ thế mà cho đến thế kỷ thứ 7 hay 8 gì đó hoàn toàn diệt quốc dưới thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn.
Một dân tộc tồn tại song song với người Việt từ thời Văn Lang, một vương quốc ra đời gần như đồng thời với khi người Việt giật đứt gông xiềng đô hộ, giành lại nền độc lập tự chủ từ tay người Hoa Hạ ở phương Bắc, cuối cùng đã biến mất trên bản đồ. Nghĩ tới đó thấy có một niềm bồi hồi, chạnh lòng khó tả trước sự xoay vần của con tạo.
Tất cả những gì còn lại của họ giờ đây là vài chục tòa tháp rêu phong cổ kính rải rác các tỉnh ven biển miền Trung, phần lớn đổ nát hoang phế, số ít được phục dựng, và chỉ vài cái còn nhang khói lễ bái; là những điệu múa dân gian Chăm mà chủ yếu chỉ còn trình diễn như một tiết mục văn nghệ mua vua cho khách du lịch; là vài làng nghề còn sót lại như một sợi chỉ mảnh mai kéo tuột ra từ một tấm thảm lịch sử đã rách của dân tộc họ, tồn tại tới ngày nay, như nghề gốm, nghề dệt. Thứ quý giá nhất họ còn giữ lại được có lẽ chính là tiếng nói của họ. Người Chăm hiện này vẫn nói thứ tiếng mà vua Chế Mân, Chế Bồng Nga, và tổ tiên họ nói từ hàng thế kỷ trước.
Phù điêu mặt tiền tháp chính Po Nagar, khắc hình thần Shiva múa trên lưng bò thần Nandin, biểu tượng cho sức mạnh sáng tạo và hủy diệt của vũ trụ. Tác phẩm điêu khắc Chăm Pa tinh xảo thế kỷ IX, kết hợp hài hòa giữa gạch nung đỏ và sa thạch xám, tiêu biểu cho nghệ thuật tôn giáo Champa.
Vừa rồi mình có dịp chạy dọc tuyến cao tốc ven biển mới thông xe ít lâu. Xuất phát từ Sài Gòn, đi thẳng một mạch tới Phan Thiết, từ Phan Thiết chạy ra Phan Rang, và Phan Rang tới Nha Trang. Phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ và hoang sơ, núi cao từng dãy trùng điệp chạy quanh chân trời, biển rộng trời cao. Vì tuyến đường này chạy dọc theo lãnh thổ vương quốc Champa cổ, nó khiến mình nhiều lần trên đường tự hỏi: Mảnh đất này khi xưa tên là gì, những ai đã ở đây, họ đã làm gì? Lịch sử và văn hóa của họ ra sao? Những câu hỏi kiểu vậy càng thôi thúc hơn khi mình ghé thăm hai di tích tháp chàm nổi tiếng nhất của họ còn lại ngày nay: Tháp Bà Po Nagar ở Nha Trang, và tháp Po Klong Garai ở Phan Rang.
Đứng trước những tòa tháp nâu đất cổ kính này là bạn đang đứng trước hàng thế kỷ thời gian dâu bể. Tháp Bà dựng từ thế kỷ thứ 6, bị phá rồi dựng lại vào thế kỷ 9, thờ Nữ Thần Mẹ của người Chăm. Tháp Po Klong Garai dựng thế kỷ 14, thờ vua thần cùng tên, một vị minh quân được người Chăm phong thần sau khi chết. Những tòa tháp này đã đứng ở đây khi Ngô Quyền đánh tan quân Hán trên sông Bạch Đằng, mang về nền tự chủ cho người Việt; Khi Lý Thường Kiệt phá Tống trên sông Như Nguyệt; Khi Trần Hưng Đạo đánh tan tác quân Mông Nguyên ở cửa Hàm Tử; Khi Lê Lợi hội thề Lũng Nhai với chư tướng quyết quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi; Khi Nguyễn Du đặt bút viết những dòng đầu tiên của kiệt tác Truyện Kiều; Khi Nguyễn Hoàng đặt chân vào vùng Thuận Hóa, bắt đầu giai đoạn mở cõi về nam; Khi người Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, mở màn 100 năm Pháp thuộc; Khi Bảo Đại ký chiếu thoái kết liễu nền quân chủ ngàn năm trên đất Việt; Khi người ta ký hiệp định Geneve ngăn đôi sơn hà; Khi chiếc xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng dinh Độc Lập, thể chế miền Nam trút hơi thở cuối cùng, khép lại 30 năm nam bắc tương tàn.
Những tòa tháp ấy vẫn đứng đó, trơ gan cùng tuế nguyệt, lặng nhìn nhân thế đổi dời, các triều đại hưng vong thay đổi lẫn nhau.
Ghé thăm những đền tháp cổ xưa này, âu cũng là một gợi ý để mình tìm hiểu sâu hơn về lịch sử và văn hóa Champa, như một cách mở mang tri thức và ghi chép một chút tư liệu để sau này dùng vào việc sáng tác.
Bước qua cổng, tôi thấy người dân và du khách đan xen. Vài người khấn vái với bó hoa, vài người nâng máy ảnh, vài người chỉ ngồi im trong bóng râm. Không gian Chăm ngay lập tức ôm lấy bạn bằng mùi nhang, tiếng rì rầm cầu nguyện, và cảm giác “bậc thềm dâng cao” dẫn tới một trung tâm linh thiêng. Tôi ngước nhìn tháp chính — khối kiến trúc nổi bật với thân gạch đứng, góc tháp như những sống núi, và những mảng trang trí dày đặc mà càng nhìn kỹ càng thấy thú vị: kala – makara, guột lá, hình vũ nữ, thần linh, những mô típ vừa mạnh mẽ vừa uyển chuyển.
Trong lòng tháp, nữ thần Po Nagar (về sau người Việt tôn xưng Thiên Y A Na) ngự trị như một “trục” của ký ức. Bao thế hệ ngư dân, nông dân, thương nhân đến đây với ước nguyện riêng: mùa cá an lành, mùa màng thuận lợi, gia đạo bình yên. Người Chăm lấy nước, gió và biển làm nhịp điệu sống, và ở tháp Bà, tôi hiểu hơn vì sao: nữ thần vừa là Mẹ, vừa là Biển, vừa là Đất — một tổng hợp biểu tượng của phồn sinh và che chở.
Tháp Bà Po Nagar nằm trên một ngọn đồi nhỏ ven cảng thành phố Nha Trang, từ trung tâm đi ra chỉ khoảng 5-10 phút chạy xe. Bạn sẽ đi qua một cây cầu bắc ngang cửa sông, từ trên cầu trông xa xa sẽ thấy tòa tháp màu nâu đất nhọn tựa đỉnh núi nhô lên giữa những hàng cây xanh rì. Nơi cửa biển này khi xưa cũng là hải cảng sấm uất từng đón những chuyến tàu viễn dương từ các nền văn hóa khác ghé qua, mà chắc chắn trong đó là các con tàu Ấn Độ đã chuyên chở tín ngưỡng, chữ viết, và và các biểu tượng nghệ thuật vào Champa.
